1. Thực trạng hoạt động tố tụng của Luật sư là cộng tác viên trong công tác trợ giúp pháp lý.
Có thể nhận thấy rằng, việc tham gia tố tụng của đội ngũ Luật sư là cộng tác viên trong quá trình điều tra các vụ án hình sự góp phần nâng cao trách nhiệm và chất lượng hoạt động điều tra, xử lý tội phạm của cơ quan điều tra cấp tỉnh và cấp huyện theo đúng các quy định của pháp luật, hạn chế đến mức thấp nhất các trường hợp oan sai, góp phần bảo vệ được các quyền, lợi ích chính đáng của những người được trợ giúp pháp lý.
Bằng hoạt động của mình và đạo đức nghề luật sư, đội ngũ Luật sư là cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Ninh Bình, đã đem lại những hiệu quả nhất định trong việc chứng minh sự vô tội, làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội; trẻ em bị xâm hại, ngược đãi, phụ nữ bị bạo hành và là nạn nhân của nạn buôn bán người… góp phần bảo đảm tính khách quan trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Luật sư là cộng tác viên đã giúp cho người tiến hành tố tụng thận trọng hơn trong hoạt động của mình, hạn chế được oan sai và sự tham gia của Luật sư là cộng tác viên từ giai đoạn điều tra như là một sự phản biện có lợi cho cơ quan điều tra.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, đội ngũ Luật sư là cộng tác viên trong quá trình tham gia tố tụng trong các vụ án hình sự đã gặp không ít khó khăn, cản trở từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng, mà chủ yếu là từ sự nhận thức của chính những người tiến hành tố tụng, do những quy phạm pháp luật về thực hiện quyền bào chữa còn mang tính tùy nghi, chưa có văn bản giải thích rõ ràng dẫn đến việc giải thích khác nhau về việc thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Qua thực tiễn cho thấy, khó khăn, bất cập trong việc cấp Giấy chứng nhận người bào chữa từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng đó là cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu phải có quá nhiều giấy tờ như: Thẻ luật sư, Chứng chỉ hành nghề, Giấy giới thiệu của văn phòng luật sư hoặc Quyết định của Luật sư là cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý. Trong khi đó, Luật sư không biết phải gửi các giấy tờ thủ tục liên quan đến yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng cấp Giấy chứng nhận người bào chữa cho mình tại bộ phận nào của cơ quan tiến hành tố tụng, trong khi đó cơ quan điều tra yêu cầu phải gửi các thủ tục nêu trên cho đội điều tra tổng hợp, có nơi quy định Luật sư phải gửi trực tiếp cho Điều tra viên thụ lý để được cấp Giấy chứng nhận bào chữa. Để biết được Điều tra viên nào trực tiếp thụ lý vụ án là một điều không đơn giản. Như vậy, về mặt chủ quan có thể nhận thấy không phải dễ dàng gì mà Luật sư có được Giấy chứng nhận bào chữa để tham gia vào quá trình tố tụng. Hiện nay Bộ luật tố tụng hình sự cũng chưa quy định cụ thể về thủ tục này nên mỗi nơi áp dụng một kiểu và gây khó khăn cho Luật sư trong quá trình tham gia tố tụng.
Việc cơ quan tiến hành tố tụng gây khó khăn trong việc cấp Giấy chứng nhận người bào chữa vô hình chung đã vi phạm quyền bào chữa của bị can, bị cáo đã được pháp luật quy định. Khi bị gây khó khăn, thường các Luật sư ngại đụng chạm nên cố gắng chịu đựng, bởi nhiều trường hợp Luật sư mạnh dạn khiếu nại lên người có thẩm quyền thì sau đó họ lại bị cơ quan điều tra gây khó dễ nhiều hơn trong các vụ án tiếp theo. Yêu cầu đủ các loại giấy tờ để được cấp Giấy chứng nhận người bào chữa có vẻ còn dễ chịu và gây ít “ấm ức” hơn so với trường hợp cơ quan điều tra hẹn lần, hẹn lữa với Luật sư mà không có lý do chính đáng. Việc làm này không phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp của Nhà nước theo tinh thần của Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị.
Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên như sau: Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 Bộ Luật tố tụng hình sự thì khi bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại điện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình. Do đó, trường hợp khi phạm tội, người phạm tội là người chưa thành niên, nhưng khi khởi tố, truy tố, xét xử họ đã đủ 18 tuổi thì họ không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự. Quy định này, vô tình các cơ quan tiến hành tố tụng tước đi quyền bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa của bị cáo khi phạm tội là người chưa thành niên
2. Tình hình và kết quả thực hiện công tác trợ giúp pháp lý cho các đối tượng được trợ giúp pháp lý của Luật sư là cộng tác viên trong hoạt động tố tụng trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
Trong năm 2014 và 06 tháng đầu năm 2015, tổng số vụ mà Trung tâm trợ giúp pháp lý cử Luật sư là cộng tác viên tham gia tố tụng là 50 vụ việc với 50 đối tượng (chủ yếu là người chưa thành niên phạm tội) trong vụ án hình sự.
Trong quá trình tham gia tố tụng, kỹ năng tranh tụng được thực hiện tương đối đồng đều, vai trò của Luật sư là cộng tác viên tại phiên tòa đã thực sự giúp cho Tòa án xét xử công minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Không ít phiên tòa, thông qua phần xét hỏi hoặc tranh luật của Luật sư cộng tác viên làm sáng tỏ nhiều tình tiết có thể làm thay đổi nội dung vụ án hoặc phổ biến hơn những tình tiết mà Luật sư là cộng tác viên đã làm rõ, có thể bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên phạm tội trước pháp luật, nếu không có Luật sư là cộng tác viên thì họ có thể sẽ bị thiệt thòi, không được Tòa án xem xét.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì vẫn còn một số khó khăn, tồn tại sau:
- Mối quan hệ giữa Luật sư là cộng tác viên với cơ quan điều tra trong việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can trong giai đoạn điều tra, theo dõi các hồ sơ hình sự thuộc trường hợp phải có luật sư tham gia theo khoản 2 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự, thì trong giai đoạn này, việc tham gia các lần hỏi cung rất hạn chế về số lượt. Gần như 100 các bản hỏi cung là chỉ có chữ ký của Luật sư cộng tác viên chứng minh rằng có chứng kiến chứ không nêu lên bất kỳ câu hỏi mào hoặc lời nhận xét nào của Luật sư cộng tác viên trong biên bản hỏi cung bị can.
- Một số Luật sư là cộng tác viên còn yếu về nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp, chưa cập nhật được các văn bản pháp luật cần thiết cho hoạt động bào chữa, chưa phát huy hết trách nhiệm của Luật sư cộng tác viên trong khi pháp luật tố tụng đã quy định đầy đủ, cụ thể là chưa phân biệt được “quyền luật sư” quy định tại khoản 2 và “nghĩa vụ của luật sư” theo khoản 3 Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự. Sự nhầm lẫn thiếu sót này không chỉ làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo mà còn giảm uy tín của Luật sư.
- Nhiều Luật sư còn lúng túng trong hoạt động của mình tại phiên tòa khi lợi ích của các bị cáo đối nghịch, mâu thuẫn nhau. Có Luật sư cộng tác viên bào chữa cho bị cáo này còn thay quyền công tố kết tội bị cáo khác nhằm có lợi cho bị cáo mà mình đang bào chữa…
3. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự
Các quy phạm pháp luật về thực hiện quyền bào chữa trong hoạt động trợ giúp pháp lý là những cái đã có nhưng chưa đầy đủ vào đảm bảo thực hiện tốt. Vì vậy, việc hoàn thiện cơ sở pháp lý và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền bào chữa trong hoạt động trợ giúp pháp lý là rất cần thiết.
Việc hoàn thiện cơ sở pháp lý và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền bào chữa trong hoạt động trợ giúp pháp lý phải phù hợp với xu thế chung là tiếp tục hoàn thiện những quy phạm pháp luật về thực hiện quyền bào chữa trong hoạt động trợ giúp pháp lý hiện có, đồng thời bổ sung các quy phạm pháp luật liên quan đến việc thực hiện quyền bào chữa trong hoạt động trợ giúp pháp lý cho thật sự đầy đủ, rõ ràng và bảo đảm thực hiện như:
Thứ nhất, cần phải có những hoạt động hệ thống, củng cố lại các quy phạm pháp luật và cơ chế thực hiện quyền bào chữa trong hoạt động trợ giúp pháp lý đang tồn tại để phát hiện những cản trở, thiếu sót mà đưa ra các giải pháp khắc phục kịp thời.
Thứ hai, trong trường hợp có sự tham gia của Luật sư cộng tác viên, Trợ giúp viên pháp lý hoặc theo yêu cầu của Cơ quan tiến hành tố tụng ngay từ giai đoạn bắt người chưa thành niên vi phạm pháp luật; người chưa thành niên bị tạm giữ, bị khởi tố, bắt tạm giam… thì Giấy chứng nhận người bào chữa cần được xác định có giá trị trong suốt các giai đoạn tố tụng cho đến khi kết thúc việc xét xử sơ thẩm, trừ trường hợp bị thu hồi theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Thứ ba, cần xây dựng một quy trình thực hiện công tác trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng hình sự. Trong đó phải quy định về sự có mặt bắt buộc của Luật sư cộng tác viên, Trợ giúp viên pháp lý tại các buổi lấy lời khai và một số hoạt động tố tụng khác áp dụng đối với đối tượng được trợ giúp pháp lý, coi đó là một trong những điều kiện đảm bảo cho việc hoàn thành công tác trợ giúp pháp lý.
Thứ tư, Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng cần tiếp tục triển khai mạnh mẽ thực hiện Thông tư liên tịch số 11/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP- BTC-VKSNDTC-TANDTC một cách triệt để, để tháo gỡ những vấn đề vướng mắc về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng.
Đoàn Thị Ngọc Hải - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình