Trong những năm qua, các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm thực hiện tốt công tác BĐGTS phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cũng như bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức khi tham gia vào lĩnh vực này. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của chính phủ về Bán đấu giá tài sản và Thông tư số 23/2010/TT-BTP ngày 26/12/2010 của Bộ Tư pháp về hướng dẫn thi hành Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của chính phủ về Bán đấu giá tài sản (Sau đây gọi tắt là Nghị định; Thông tư) thì tình trạng vi phạm các quy định được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Điển hình như các vi phạm sau đây:
1. Vi phạm về chủ thể bán đấu giá.
Theo quy định của Nghị định thì ngoài các tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp, Nghị định cũng quy định 02 loại Hội đồng:
Một là: Hội đồng BĐGTS cấp huyện do Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định thành lập để bán đấu giá tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính do cơ quan tịch thu từ cấp huyện trở xuống ra quyết định tịch thu theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Nghị định quy định rõ trách nhiệm của Hội đồng BĐGTS, trong đó có trách nhiệm phải “ký hợp đồng với tổ chức BĐGTS để tổ chức này cử đấu giá viên điều hành cuộc bán đấu giá tài sản của Hội đồng” (Điểm b khoản 1,Điều 21 Nghị định).
Hai: Hội đồng BĐGTS trong trường hợp đặc biệt do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương, UBND cấp tỉnh quyết định thành lập để bán các tài sản có giá trị lớn, phức tạp bao gồm tài sản là trụ sở làm việc, tài sản khác gắn liền với đất (bao gồm cả quyền sử dụng đất) có nguyên giá theo sổ kế toán từ 1.000 (một ngàn) tỷ đồng trở lên; tài sản khác không phải là trụ sở làm việc, không phải là tài sản khác gắn liền với đất có giá khởi điểm để bán đấu giá từ 100 (một trăm) tỷ đồng trở lên, tài sản là quyền sử dụng đất là từ 300 tỷ đồng trở lên (tùy theo từng địa phương cụ thể); tài sản có nguồn gốc phức tạp, tài sản đặc biệt quý hiếm, có yêu cầu quản lý đặc biệt của Nhà nước hoặc các trường hợp đặc biệt khác theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; tài sản khác mà không thuê được tổ chức BĐGTS chuyên nghiệp thực hiện việc bán đấu giá.
Như vậy theo các quy định trên thì trong trường hợp bán đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định của Thông tư 48/2012/TT-BTC có giá trị 300 tỷ đồng trở lên hoặc tài sản có giá trị lớn theo quy định của Thông tư 245/2009/TT-BTC có giá trị trên 100 tỷ đồng trở lên hoặc không thuê được Đấu giá viên thì Hội đồng BĐGTS mới có thẩm quyền bán đấu giá. Nhưng trong thực tế hiện nay tại một số địa phương quy định này không được thực hiện nghiêm túc. Bởi vì việc bán đấu giá quyền sử dụng đất có giá trị như thế nào và một số tài sản do xử lý vi phạm hành chính cũng do Hội đồng BĐGTS cấp huyện tổ chức thực hiện mà không ký kết hợp đồng với các tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp. Đồng thời hiện nay, các Hội đồng này cũng chưa có trường hợp nào được bổ nhiệm Đấu giá viên để có đủ yêu cầu và năng lực theo quy định để điều hành phiên đấu giá.
2. Xuất hiện nhiều trường hợp cạnh tranh không lành mạnh.
Thực hiện chủ trương tiếp tục xã hội hoá, chuyên nghiệp hóa tổ chức BĐGTS, Điều 18 Nghị định xác định rõ các tổ chức bán đấu giá tài sản chuyên nghiệp gồm có: Trung tâm dịch vụ BĐGTS và doanh nghiệp BĐGTS. Các Trung tâm và doanh nghiệp bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong việc BĐGTS theo quy định của Nghị định này, trừ việc BĐGTS là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải được chuyển giao cho Trung tâm bán theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.
Chính vì cơ chế pháp luật quy định việc thành lập doanh nghiệp BĐGTS quá "thoáng" nên trong thời gian qua cùng Trung tâm dịch vụ BĐGTS thuộc Sở Tư pháp thì các doanh nghiệp bán đấu giá được thành lập với số lượng lớn. Đa số các doanh nghiệp đăng ký hoạt động BĐGTS như một ngành nghề “phụ”, thậm chí đăng ký nhưng không hiếm khi có hoạt động BĐGTS. Chính vì vậy nên giữa các tổ chức bán đấu giá đã xuất hiện tình trạng cạnh tranh không lành mạnh. Thực tế đã xảy ra “hiện tượng” khách hàng “đổ bộ” vào doanh nghiệp thẩm định và bán đấu giá tài sản vì lý do "hoa hồng" khi bán tài sản. Có trường hợp, khách hàng còn ra điều kiện “phần trăm” nếu muốn ký hợp đồng bán đấu giá. Cá biệt có trường hợp khi tiếp thị với khách hàng, các doanh nghiệp cho biết sẽ không thu phí bán đấu giá nếu khách hàng ký kết với doanh nghiệp của họ. Còn nguồn kinh phí để phục vụ cho việc tổ chức bán đấu giá thì cứ để doanh nghiệp tự xử lý. Đây là một vấn đề "bí ẩn" mà các Trung tâm BĐGTS không thể giải mã được vì không biết các doanh nghiệp lấy từ nguồn thu nào để tổ chức bán đấu giá. Vì vậy, trong cuộc cạnh tranh này thì người thua thiệt bao giờ cũng là các Trung tâm. Bởi vì các Trung tâm này phải tuân thủ đúng nguyên tắc tài chính mà pháp luật đã quy định như có trách nhiệm phải nộp NSNN, phải chịu sự kiểm tra nghiệp vụ của cơ quan tài chính, phải quyết toán tài chính hàng năm, phải thành lập các loại quỹ theo quy định nên phải tiến hành thu đúng, thu đủ khi thực hiện chức năng bán đấu giá.
3. Nhập nhằng về hình thức tổ chức thẩm định giá và đấu giá.
Về vấn đề này thì Nghị định 17/2010/NĐ-CP và Thông tư 23/2010/TT-BTP cũng quy định rất cụ thể là: Đối với doanh nghiệp BĐGTS đồng thời có chức năng thẩm định giá, nếu doanh nghiệp hoặc chi nhánh của doanh nghiệp hoặc các tổ chức trực thuộc doanh nghiệp, đơn vị kinh tế mà doanh nghiệp đó có cổ phần chi phối đã tiến hành thẩm định giá tài sản để bán đấu giá thì doanh nghiệp BĐGTS không được đồng thời tiến hành bán đấu giá tài sản đó. Tuy nhiên, quy định này đã bộc lộ nhiều điểm không phù hợp với thực tiễn của công tác bán đấu giá. Hiện nay nhiều tổ chức thẩm định giá và tổ chức bán đấu giá tiền thân là một đơn vị. Nhưng khi muốn đăng ký thêm chức năng bán đấu giá thì một bộ phận của tổ chức thẩm định giá được tách ra thành một pháp nhân độc lập nhưng có cùng một đơn vị chủ quản; hoặc có trường hợp có cổ phần nhưng chưa đến tỷ lệ cổ phần chi phối. Hai tổ chức này về hình thức thì có vẻ là độc lập với nhau nhưng thực chất là hoạt động "hai trong một". Cũng có trường hợp anh chị em ruột, người thân với nhau làm việc ở hai tổ chức này. Cá biệt có trường hợp hai tổ chức này làm việc cùng một phòng với nhau và tạo nên một quy trình khép kín. Điều này về lý luận tuy không vi phạm các quy định cấm của pháp luật nhưng thực tiễn liệu có đảm bảo được tính khách quan từ khâu thẩm định cho đến khâu bán đấu giá tài sản.
Trong thời gian qua, những vi phạm nêu trên vẫn tồn tại trong việc thực hiện pháp luật về bán đấu giá tài sản và ít nhiều tác động tiêu cực đến quyền và lợi ích hợp pháp của người có tài sản bán đấu giá. Vì vậy các cơ quan có thẩm quyền nên xem xét, tăng cường công tác kiểm tra và xử lý kịp thời các vi phạm nêu trên. Từ đó có những biện pháp nhằm thực hiện tốt hơn và từng bước hoàn thiện cơ chế bán đấu giá tài sản trong thời gian tới.
Bảo Minh